top of page
Image by Drew Beamer

Thực hành của việc học: Tư duy lại về giáo dục thiết kế cho một ngành nghề sẵn sàng với tương lai

“For me, a future-ready profession is one that can explain its decisions and reconsider them when evidence warrants it.”
“Với tôi, một ngành nghề sẵn sàng cho tương lai là ngành có thể lý giải những quyết định của mình và xem xét lại chúng khi có đủ cơ sở để làm điều đó.”

Các đơn vị thực hành thiết kế cần biến việc học hỏi thành một phần trong cách họ vận hành. Mối quan hệ giữa giáo dục và thực hành không thể kết thúc khi một sinh viên tốt nghiệp bước vào studio, cũng không thể chỉ được nối lại khi một người hành nghề quay trở về lớp học. Mối quan hệ ấy cần tiếp tục trong cách chúng ta đặt câu hỏi với đề bài, phát triển phương án, xem xét một không gian đã hoàn thành và chia sẻ những gì mình khám phá được. Với một ngành nghề chịu trách nhiệm tạo nên những môi trường mà con người sử dụng mỗi ngày, khả năng điều chỉnh lại nhận thức của chính mình là một trách nhiệm mang tính thực tiễn.

Trong hơn hai mươi sáu năm thực hành thiết kế không gian, song song với khoảng mười tám năm giảng dạy, tôi đã làm việc giữa những kỳ vọng của khách hàng, nhà giáo dục và các nhà thiết kế trẻ. Những vai trò này củng cố niềm tin của tôi rằng giáo dục và thực hành cần liên tục bổ trợ cho nhau. Giáo dục cho chúng ta không gian để khảo sát những ý tưởng mà khả năng ứng dụng thương mại còn chưa chắc chắn. Thực hành đưa những ý tưởng ấy đối diện với ngân sách, thi công, hành vi tổ chức và đời sống của người sử dụng. Mỗi bên trở nên hữu ích hơn khi luôn cởi mở với bên còn lại.

Vì vậy, câu hỏi dành cho những người làm nghề giàu kinh nghiệm là làm thế nào xây dựng một thực hành vẫn tiếp tục học hỏi mà không đánh mất tính kỷ luật cần thiết để triển khai công việc. Điều này đòi hỏi một cách hiểu rộng hơn về năng lực thiết kế, một mối quan hệ thận trọng hơn với công nghệ và một kiểu lãnh đạo tạo điều kiện cho sự suy ngẫm ngay trong áp lực của công việc hằng ngày.

Năng lực phán đoán không gian trong một ngành nghề đang thay đổi

Đầu ra hữu hình của thiết kế nội thất thường là một không gian, được truyền đạt qua bản vẽ, hình ảnh và thông số kỹ thuật. Nhưng công việc quyết định chất lượng của không gian ấy bắt đầu sớm hơn. Chúng ta quyết định nhu cầu nào cần được ưu tiên, trải nghiệm của ai được phản ánh trong đề bài và một can thiệp được đề xuất có thể tạo ra những hệ quả gì. Những quyết định này đòi hỏi năng lực phán đoán không gian: khả năng kết nối điều kiện vật lý với hành vi con người và đưa ra một lựa chọn có thể lý giải, bảo vệ được.

Ví dụ, một nơi làm việc có thể có quán café hấp dẫn và những khu vực cộng tác rộng rãi nhưng lại thiếu sự riêng tư cho công việc cần tập trung. Một phòng họp có thể đáp ứng yêu cầu về sức chứa nhưng vẫn bất tiện khi sử dụng vì âm thanh truyền đi, ánh sáng chói ảnh hưởng đến màn hình hoặc đồ nội thất cản trở di chuyển. Nhà thiết kế phải hiểu cách những điều kiện này tác động lẫn nhau. Một bức ảnh chỉ cung cấp bằng chứng hạn chế cho mức độ thấu hiểu đó.

Skills Framework for Design được DesignSingapore Council cập nhật phản ánh một lĩnh vực nghề nghiệp rộng, với các lộ trình sự nghiệp trải dài từ kinh doanh và quản lý, thiết kế, đổi mới và nghiên cứu insight, đến công nghệ. Giá trị của khung này đối với một studio nằm ở việc giúp người lãnh đạo xác định những năng lực mà dự án yêu cầu và những gì đội ngũ cần học thêm. Nó tạo ra một hệ quy chiếu chung để nhà tuyển dụng và nhà giáo dục trao đổi về phát triển nghề nghiệp.

Đối với nhà thiết kế không gian, năng lực rộng hơn cần củng cố hiểu biết của chúng ta về không gian. Chúng ta vẫn cần hiểu tỷ lệ, vật liệu và thi công. Đồng thời, chúng ta cũng cần đặt câu hỏi về cách khách hàng vận hành, cách người dùng di chuyển trong môi trường và cách thiết kế sẽ được bảo trì. Ngành nghề có thêm sức thuyết phục khi chúng ta có thể giải thích mối quan hệ giữa một quyết định không gian và mục đích mà quyết định ấy phục vụ.

Tại RHB Bank Cecil Branch and Premier Centre (Hình 1), sàn họa tiết, các khung cửa và khu vực lễ tân cho thấy bản sắc thị giác có thể dẫn dắt sự chuyển tiếp vào một môi trường ngân hàng như thế nào. Hình ảnh cho phép các lựa chọn không gian được xem xét song song với ý đồ đã được xác định của dự án.

Tạo mối quan hệ hai chiều giữa giáo dục và thực hành

Khoảng cách giữa giáo dục và thực hành thường được bàn luận như một vấn đề về mức độ sẵn sàng của sinh viên mới tốt nghiệp. Nhà tuyển dụng muốn các nhà thiết kế trẻ nhanh chóng tạo ra công việc hữu ích. Nhà giáo dục muốn sinh viên phát triển tư duy độc lập. Cả hai kỳ vọng đều hợp lý, nhưng sẽ không bên nào được đáp ứng nếu xem giáo dục như một dây chuyền sản xuất phục vụ nhu cầu hiện tại của studio.

Môi trường giáo dục cần cho phép sinh viên chất vấn những giả định mà một chương trình thương mại có thể không đủ thời gian để xem xét. Sau đó, thực hành cần giúp họ hiểu một ý tưởng tồn tại như thế nào qua quá trình thương lượng và triển khai. Quá trình chuyển tiếp này cần được giải thích. Khi một nhà thiết kế cấp cao thay đổi một chi tiết, đồng nghiệp trẻ cần hiểu lý do, dù đó là dung sai lắp đặt, khả năng tiếp cận để bảo trì hay một nhu cầu của người dùng chưa được giải quyết.

Điều này cũng đặt ra trách nhiệm cho nhà tuyển dụng. Không thể kỳ vọng một sinh viên mới tốt nghiệp sở hữu kinh nghiệm mà chỉ việc tiếp xúc với các dự án thực tế mới có thể mang lại. Studio cần chủ động tạo ra sự tiếp xúc đó, với cơ hội tham dự các cuộc họp điều phối, xem xét mẫu vật liệu và hiểu cách một đề xuất trở thành chỉ dẫn mang tính hợp đồng. Giao những công việc sản xuất lặp lại mà thiếu bối cảnh có thể cải thiện năng lực tức thời, nhưng đồng thời hạn chế sự phát triển của những người lãnh đạo dự án trong tương lai.

Sự trao đổi cần diễn ra theo cả hai chiều. Người hành nghề có thể đưa những tình huống khó xử đã được ẩn danh từ dự án vào giảng dạy, bao gồm những quyết định không có đáp án lý tưởng. Nhà giáo dục có thể giúp các đơn vị thực hành xem xét những phương pháp và giả định đã trở thành thói quen. Một sự hợp tác hữu ích có thể khảo sát cách người dùng trải nghiệm một nơi làm việc đã hoàn thành hoặc cách một fit-out hiện hữu có thể được điều chỉnh. Mục tiêu cần được thống nhất, đồng thời lưu ý phù hợp đến tính bảo mật và thời gian mà các bên liên quan cần bỏ ra.

NAFA Arts Preschool (Hình 2) là một ví dụ đã được xây dựng cho cuộc đối thoại này. Phòng sinh hoạt chung sử dụng mái dốc, nội thất theo tỷ lệ trẻ em và các cửa sổ nội bộ để kết nối trực quan những không gian liền kề. Bức ảnh minh họa ý đồ thiết kế mà không khẳng định một kết quả học tập đã được đo lường.

Học hỏi trong studio

Một tổ chức học hỏi cần những thói quen giúp kiến thức đi xa hơn người trực tiếp tích lũy nó. Trong một môi trường thực hành bận rộn, kinh nghiệm có thể bị phân mảnh. Một nhóm dự án phát hiện một vấn đề điều phối lặp lại, nhóm khác hiểu thêm về giới hạn của một vật liệu, còn nhóm thứ ba giải quyết một vấn đề mua sắm khó khăn. Nếu những bài học này không được chia sẻ, đồng nghiệp có thể lặp lại cùng một quá trình tìm hiểu hoặc cùng một sai lầm.

Việc rà soát dự án là một điểm khởi đầu thực tế. Hoạt động này nên xem xét lý do đằng sau các quyết định thay vì chỉ trình bày sản phẩm hoàn thiện. Điều gì đã thay đổi từ ý tưởng đến khi hoàn thành? Giả định nào đã chứng minh là không chính xác? Nhà thầu đã hiểu khác ở điểm nào? Một ghi nhận ngắn về một quyết định có hệ quả đáng kể có thể hữu ích hơn một bài trình bày dài gồm toàn những hình ảnh được trau chuốt.

Những không gian đã hoàn thành cũng xứng đáng được quan tâm. Quay lại sau khi đưa vào sử dụng cho phép nhà thiết kế so sánh ý đồ với cách sử dụng thực tế. Người dùng có thể di chuyển đồ nội thất, tránh một tuyến lưu thông hoặc sử dụng một góc yên tĩnh cho mục đích khác. Những quan sát này cần được diễn giải; một cách sử dụng ngoài dự kiến không mặc nhiên là thất bại. Nó có thể cho thấy một nhu cầu mà đề bài ban đầu chưa nắm bắt, hoặc một khả năng thích ứng đáng được duy trì.

Admira The Library (Hình 3) đưa thực hành khám phá này vào hình thức không gian. SODA® tổ chức showroom vật liệu xoay quanh các điểm chạm của khách hàng, bao gồm thư viện mẫu vật liệu và những khu vực để xem xét sản phẩm. Không gian hoàn thiện cho thấy một đề bài thương mại có thể tạo ra môi trường cho việc học hỏi và trao đổi như thế nào.

Người lãnh đạo phải bảo vệ thời gian dành cho công việc này. Nếu việc học chỉ diễn ra sau khi hoàn thành deadline, nó sẽ liên tục bị trì hoãn. Future of Jobs Report 2025 của World Economic Forum xác định tính tò mò và học tập suốt đời nằm trong nhóm kỹ năng mà các nhà tuyển dụng tham gia khảo sát kỳ vọng sẽ ngày càng quan trọng. Đây là góc nhìn rộng của thị trường lao động, không phải dự báo dành riêng cho thiết kế nội thất. Với ngành nghề của chúng ta, hàm ý hữu ích là cần xem phát triển năng lực như một phần của kế hoạch tổ chức, có thời gian và nguồn lực đi kèm.

Năng lực AI và trách nhiệm phán đoán

Trí tuệ nhân tạo khiến cuộc thảo luận này trở nên cấp thiết hơn vì nó thay đổi tốc độ mà nhà thiết kế có thể tạo ra và so sánh các phương án. Công cụ tạo sinh có thể hỗ trợ khám phá thị giác và giúp tổ chức thông tin. Mức độ hữu ích của chúng phụ thuộc vào câu hỏi chúng ta đặt ra và tiêu chuẩn chúng ta dùng để đánh giá câu trả lời.

RIBA AI Report 2025 ghi nhận tỷ lệ sử dụng AI trong các đơn vị thực hành kiến trúc là 59%, so với 41% vào năm 2024, dựa trên khảo sát thành viên của tổ chức. Những con số này mô tả bối cảnh kiến trúc của báo cáo; không nên được hiểu là tỷ lệ áp dụng AI của các công ty thiết kế nội thất tại Singapore hay Việt Nam. Dù vậy, chúng vẫn cho thấy vì sao giáo dục nghề nghiệp cần tiếp cận AI như một vấn đề của thực hành, bên cạnh vai trò của nó như một công cụ sáng tạo.

Một hình ảnh nội thất tạo sinh hấp dẫn có thể chứa các kích thước mâu thuẫn, những mối nối khó khả thi hoặc vật liệu chưa được xác lập về hiệu năng. Nó có thể giúp truyền đạt bầu không khí nhưng vẫn không phù hợp để làm bằng chứng rằng thiết kế có thể thi công. Nhà thiết kế cần phân biệt giữa khám phá và hồ sơ hóa, đồng thời biết khi nào một đầu ra cần được kiểm chứng độc lập.

Trong quá trình giảng dạy generative AI cho thiết kế không gian, hướng đi mà tôi cho là phù hợp là một quy trình kết nối việc prompting với đánh giá và truyền đạt. Mục tiêu học tập cần vượt ra ngoài việc tạo được một hình ảnh hấp dẫn. Nhà thiết kế phải có khả năng giải thích họ đã yêu cầu công cụ làm gì, những đầu ra nào đã bị loại bỏ và cách họ phát triển kết quả thành một đề xuất bám sát điều kiện của dự án.

Guidance for Generative AI in Education and Research của UNESCO đề cao cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, đồng thời đề cập đến quyền riêng tư và việc thẩm định đạo đức. Những nguyên tắc này cũng liên quan đến học tập nghề nghiệp. Studio cần có quyết định rõ ràng về thông tin nào có thể chia sẻ với công cụ, đầu ra sẽ được rà soát như thế nào và việc sử dụng chúng sẽ được truyền đạt ra sao. Trách nhiệm của con người vẫn thuộc về những người đưa ra yêu cầu, phê duyệt và triển khai thiết kế.

Tính bền vững như một quyết định thiết kế

Trách nhiệm môi trường cũng cần một sự kết nối tương tự giữa học hỏi và những lựa chọn hằng ngày. Global Status Report for Buildings and Construction 2025–2026 của UNEP và GlobalABC xem xét tiến trình của ngành trên các phương diện như phát thải, quy chuẩn năng lượng công trình và đầu tư vào hiệu quả năng lượng, đồng thời đề cập đến khả năng chống chịu và khả năng chi trả nhà ở. Góc nhìn rộng này quan trọng bởi hệ quả môi trường của một dự án kéo dài vượt ra ngoài thời điểm hoàn thành.

Nhà thiết kế nội thất nên bắt đầu bằng việc xem xét những gì đã tồn tại. Trước khi thay trần, vách ngăn hoặc sàn, chúng ta có thể hỏi liệu chúng còn sử dụng tốt không, có thể thích ứng hay không và việc thay thế sẽ kéo theo những công việc bổ sung nào. Giữ lại không phải lúc nào cũng là câu trả lời phù hợp. Các cấu phần hiện hữu có thể hoạt động kém hoặc không đáp ứng đề bài mới. Quyết định cần xuất phát từ khảo sát thay vì tự động ưu tiên một diện mạo hoàn toàn mới.

Việc lựa chọn vật liệu cũng đòi hỏi nhiều hơn một nhãn mác. Nhà thiết kế cần hiểu bằng chứng đứng sau một tuyên bố về tính bền vững và cân nhắc độ bền, lắp đặt cũng như sửa chữa. Một lớp hoàn thiện khó thay thế tại địa phương có thể tạo ra gánh nặng bảo trì khác với loại có linh kiện sẵn có. So sánh phù hợp phụ thuộc vào từng dự án và cách sử dụng dự kiến.

Giáo dục có thể giúp người hành nghề đưa ra những quyết định này bằng cách dạy họ chất vấn thông tin sản phẩm và nhận biết giới hạn của bằng chứng hiện có. Thực hành có thể đóng góp những ví dụ về những gì xảy ra sau khâu chỉ định: thay thế vật liệu, khó khăn trong lắp đặt và kết quả bảo trì. Khi những bài học này quay trở lại lớp học và lưu chuyển trong studio, trách nhiệm môi trường sẽ gắn chặt hơn với năng lực nghề nghiệp.

Năng lực làm việc xuyên ranh giới

Các dự án không gian phụ thuộc vào chuyên môn mà không một nhà thiết kế đơn lẻ nào có thể nắm trọn. Kỹ sư, đơn vị vận hành, nhà thầu và tư vấn chuyên ngành mang đến những kiến thức ảnh hưởng trực tiếp đến việc một không gian có thể vận hành an toàn và hiệu quả đến đâu. Làm việc liên ngành đòi hỏi đủ hiểu biết để đặt những câu hỏi hữu ích và nhận ra khi nào một quyết định cần đến chuyên môn của người khác.

Systemic Design Framework của Design Council đưa ra một góc nhìn phù hợp khi mở rộng tư duy thiết kế tới các thách thức về khí hậu, đa dạng sinh học và những mối quan hệ liên quan đến thay đổi. Giá trị của khung này đối với thực hành không gian nằm ở việc khuyến khích chúng ta nhìn xa hơn một can thiệp riêng lẻ. Chẳng hạn, bố cục nơi làm việc nằm trong hệ thống chính sách, văn hóa quản lý và quy trình vận hành của một tổ chức. Thay đổi không gian tự thân không thể giải quyết mọi khó khăn của tổ chức.

Điều này đặc biệt quan trọng khi làm việc xuyên quốc gia. Một cách tiếp cận thành công ở bối cảnh này cần được xem xét lại trước khí hậu, chuỗi cung ứng và cách sử dụng không gian của một bối cảnh khác. Hiểu biết văn hóa đòi hỏi lắng nghe những người am hiểu bối cảnh và kiểm chứng cách diễn giải của chúng ta cùng họ. Điều đó không thể đạt được chỉ bằng cách thêm vào những mô-típ thị giác quen thuộc.

Kinh nghiệm tham gia các dự án tại tám quốc gia và hoạt động trong những nền tảng thiết kế khu vực đã khiến sự trao đổi này trở thành một phần quan trọng trong góc nhìn nghề nghiệp của tôi. Tiếp xúc quốc tế hữu ích nhất khi nó gợi ra một câu hỏi tốt hơn về chính công việc của chúng ta. Chúng ta nên trở về với sự hiểu biết về lý do một cách tiếp cận khác đã hiệu quả, rồi đánh giá phần nào vẫn phù hợp trong những điều kiện khác.

Hai địa điểm House On The Moon (Hình 4 và 5) tạo nên một so sánh cô đọng. Tại Great World, một cấu trúc độc lập khai thác chiều cao của khoảng thông tầng; tại GRiD Mall, những đường sáng góc cạnh mang bản sắc thiết kế xuyên suốt không gian ăn uống bên trong. Cùng nhau, chúng cho thấy một ngôn ngữ thiết kế có thể thích ứng với những điều kiện vật lý khác nhau như thế nào.

Các dự án tiêu biểu của:
Mr. Tung Ching Yew + SODA®

Học hỏi thông qua trí tuệ không gian

Tôi sử dụng khái niệm Spatial Intelligence Framework để kết nối quá trình tìm hiểu với những hệ quả của thiết kế. Chuỗi Discover, Distill, Design, Experience và Legacy là một cách tổ chức sự phản tư nghề nghiệp. Đây là một khung do tôi đề xuất cho thực hành, chứ không phải một mô hình đánh giá đã được kiểm chứng độc lập.

Discover yêu cầu chúng ta hiểu bối cảnh trước khi quyết định điều gì cần thay đổi. Distill giúp xác định thông tin quan trọng và hình thành một ý đồ thiết kế rõ ràng. Design chuyển ý đồ đó thành các quyết định không gian có thể được thảo luận, thử nghiệm và triển khai. Experience yêu cầu chúng ta xem xét cách con người tiếp xúc và sử dụng kết quả. Legacy cân nhắc những gì can thiệp để lại, bao gồm khả năng thích ứng và kiến thức mà đội ngũ thu nhận được.

Những giai đoạn sau quan trọng bởi bàn giao dự án chỉ là một cột mốc hành chính, trong khi vòng đời của không gian vẫn tiếp tục. Một studio chỉ học từ quá trình thiết kế sẽ nhận được một bức tranh chưa đầy đủ về công việc của mình. Lắng nghe người dùng và xem xét hiệu quả vận hành có thể cho thấy liệu những ưu tiên được đặt ra từ đầu có thực sự phù hợp hay không.

Khung này cũng có thể tạo ra một ngôn ngữ chung cho người hướng dẫn và các nhà thiết kế trẻ. Thay vì chỉ hỏi liệu một phương án đã trông hoàn thiện hay chưa, chúng ta có thể hỏi quá trình khám phá đã đủ chưa, ý đồ trung tâm có rõ ràng không và thiết kế có thể phản ứng thế nào trước thay đổi trong tương lai. Điều này giúp việc phán đoán trở thành chủ đề có thể trao đổi mà không hàm ý rằng mọi dự án phải đi theo một lộ trình giống hệt nhau.

Vai trò lãnh đạo trong việc tạo điều kiện cho học hỏi

Chất lượng của việc học hỏi nghề nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào lãnh đạo studio. Mọi người cần có khả năng thừa nhận sự không chắc chắn trước khi nó trở thành một sai lầm tốn kém. Một người lãnh đạo hỏi về cơ sở của một đề xuất và chấp nhận một điều chỉnh có căn cứ sẽ khiến sự phán đoán cẩn trọng trở nên có giá trị hơn việc chỉ trình bày một cách đầy tự tin.

Vì vậy, mentoring cần bao gồm cả giải thích và trách nhiệm tăng dần theo thời gian. Một nhà thiết kế trẻ cần có cơ hội đưa ra quyết định, nhận phản hồi và nhìn thấy hệ quả của quyết định đó. Những người hành nghề cấp cao cũng cần tiếp tục học. Kinh nghiệm mang lại cho họ nền tảng quý giá để đánh giá một phương pháp mới, nhưng không có nghĩa mọi thói quen đã hình thành đều phù hợp với một đề bài đang thay đổi.

Cam kết thực tế có thể bắt đầu từ những việc khiêm tốn: một buổi rà soát dự án định kỳ, một cuộc trao đổi mentoring có cấu trúc hoặc một lần quay lại thăm không gian đã đưa vào sử dụng. Mỗi hoạt động nên tạo ra điều gì đó mà đồng nghiệp có thể sử dụng, chẳng hạn một chi tiết được làm rõ, một câu hỏi briefing tốt hơn hoặc một cách đánh giá phương án hiệu quả hơn. Việc học trở nên đáng tin khi nó làm thay đổi công việc.

Với tôi, một ngành nghề sẵn sàng cho tương lai là ngành có thể lý giải các quyết định của mình và xem xét lại chúng khi bằng chứng cho thấy điều đó là cần thiết. Giáo dục tạo ra không gian để khảo sát; thực hành mang đến những hệ quả để học hỏi. Duy trì mối quan hệ này giúp nhà thiết kế phát triển năng lực phán đoán mà dự án đòi hỏi, đồng thời trao cho thế hệ tiếp theo một ngành nghề nơi việc học tiếp tục trong suốt sự nghiệp.

Sources for Editorial Reference
Article body approximately 2,355 words excluding headings and references. Sources checked on 30 September 2026. This list is supplied separately for fact checking; VMARK may choose hyperlinks, endnotes or a shorter published reference list. Personal reflections and the proposed Spatial Intelligence Framework are the author’s perspective.
1. DesignSingapore Council. Skills Framework for Design second edition.
https://designsingapore.org/initiatives/skills-framework-for-design/
Supports the discussion of career tracks and its use as a shared reference for employers and educators. Consult the current second edition; the webpage does not supply a publication date.
2. World Economic Forum 2025. The Future of Jobs Report 2025.
https://www.weforum.org/publications/the-future-of-jobs-report-2025/digest/
Supports the statement that surveyed employers expect curiosity and lifelong learning to rise in importance over 2025–2030. Findings reflect cross-sector employer expectations, not an interior-design forecast.
3. Royal Institute of British Architects 2025. RIBA AI Report 2025.
https://www.riba.org/work/insights-and-resources/ai-report/riba-ai-report-2025/
Source for reported architectural-practice AI use of 59 per cent in 2025 and 41 per cent in 2024. The article explicitly confines these figures to the report’s member-survey context.
4. Miao, Fengchun, and Wayne Holmes. 2023. UNESCO. Guidance for Generative AI in Education and Research.
https://www.unesco.org/en/articles/guidance-generative-ai-education-and-research
Supports the human-centred approach, attention to privacy and ethical validation. Application to studio practice is the author’s interpretation.
5. UNEP and Global Alliance for Buildings and Construction 2026. Global Status Report for Buildings and Construction 2025–2026.
https://wedocs.unep.org/items/dd0a1d99-dba3-46da-93ab-ef2a26fc3c14
Report subtitle: Building fast. Falling short. As climate risks rise and cities grow, we must rethink how we build to create better lives for all. Supports the report’s scope across emissions, codes, efficiency investment, resilience and affordability. The essay uses no numerical emissions claim.
6. Design Council. Systemic Design Framework.
https://www.designcouncil.org.uk/resources/systemic-design-framework/
Supports the description of a framework addressing climate and biodiversity challenges through systemic design. Its application to workplace operations is the author’s interpretation.

Read the English version here: https://drive.google.com/file/d/1revX8Fjt7kqKHOG-wtAUMQEI6K6xWU2B/view?usp=sharing

Tung Ching Yew là nhà thiết kế không gian đa lĩnh vực và Giám đốc Điều hành SODA® (Spirit Of Design Analogy Pte Ltd). Với hơn 26 năm thực hành thiết kế không gian và khoảng 18 năm giảng dạy, công việc của ông kết nối thực hành nghề nghiệp, giáo dục và vai trò dẫn dắt trong ngành. Ông từng giữ vai trò Chủ tịch Society of Interior Designers Singapore (SIDS) giai đoạn 2022-2026, đồng thời là giảng viên thỉnh giảng tại NAFA / UAS (University of the Arts Singapore), Nanyang Polytechnic và Temasek Polytechnic. Ông có bằng MA Design (Master of Arts in Design) và BA (Hons) - First Class Honours.

Công ty:

SODA® (Spirit Of Design Analogy Pte Ltd)

Website:

Xem tiếp các dự án tiêu biểu của:

Mr. Tung Ching Yew + SODA®

RHB Bank Cecil Branch and Premier Centre

NAFA Arts Preschool

bottom of page